Skip to content
Bệ phóng tên lửa và xe tự hành trên vùng đất đá lúc rạng đông, dải Ngân Hà vắt ngang bầu trời đầy sao, một vệ tinh bay phía trên.

★ ★ ★ ★ ★

Thế giới quả là rộng lớn.Và có rất nhiều việc phải làm.

vnises.com

TRÁI ĐẤT VÀ BẦU TRỜI

Quan sát hành tinh của chúng ta và không gian ngay phía trên nó.

ĐANG KẾT NỐI DỮ LIỆU TRÁI ĐẤT

Chuẩn bị môi trường hiển thị ba chiều

UTC --:--:--DATA LAYER · —SOURCE · —ĐANG KHỞI TẠO

Chọn một mốc để xem giai đoạn tương ứng. Chọn bất kỳ mốc nào sẽ dừng chế độ tự chạy.

Hành trình gồm sáu giai đoạn: Khởi nguyên; Vũ trụ sơ khai; Sao và thiên hà; Vũ trụ hiện tại; Tương lai xa; và câu hỏi về số phận cuối cùng. Đây là hình ảnh khái niệm; các kịch bản tương lai là những khả năng chưa được xác định.

Chọn một mốc để xem giai đoạn tương ứng. Chọn bất kỳ mốc nào sẽ dừng chế độ tự chạy.

Hành trình gồm sáu giai đoạn: một ngôi sao và một hành tinh đi ngang qua nó; đường cong ánh sáng cho thấy độ sáng sụt khoảng vài phần vạn; trường sao khảo sát nơi người xem có thể quan trắc từng ngôi sao; phổ hấp thụ với các phân tử H₂O, CO₂, CH₄, O₂ được ghi là manh mối hoá học cần thêm bối cảnh; vùng ở được quanh một ngôi sao, kèm ghi chú rằng có thể ở được không phải bằng chứng về sự sống; và cuối cùng là việc lắng nghe sóng vô tuyến, nơi mọi dị thường băng hẹp đều chưa được xác nhận. Đây là mô hình minh hoạ; các con số và vị trí đều mang tính khái niệm.

Tốc độ vũ trụ cấp 17,9 km/sĐủ để đi vào quỹ đạo quanh Trái Đất. Con tàu liên tục rơi về phía Trái Đất, nhưng chuyển động ngang đủ nhanh để luôn “rơi vòng quanh” hành tinh
Tốc độ vũ trụ cấp 211,2 km/sĐủ để thoát khỏi lực hấp dẫn của Trái Đất mà không cần tiếp tục tăng tốc, rồi chuyển sang hành trình trong không gian liên hành tinh
Tốc độ vũ trụ cấp 316,7 km/sĐủ để thoát khỏi cả Trái Đất lẫn lực hấp dẫn của Mặt Trời, rời Hệ Mặt Trời và tiến vào không gian giữa các vì sao

Hình động khái niệm: một tên lửa rời bề mặt Trái Đất theo phương gần thẳng đứng, rồi đường bay nghiêng dần cho tới khi gần như nằm ngang, ôm theo độ cong của hành tinh. Các tầng đã cháy hết được tách bỏ và tụt lại phía sau. Khi động cơ tắt, một vệ tinh nhỏ tách ra và tiếp tục chuyển động quanh Trái Đất mà không cần lực đẩy nào nữa. Đây là hình dung khái niệm, không phải mô phỏng quỹ đạo chính xác. Ba mốc tốc độ được nhắc tới: tốc độ vũ trụ cấp một khoảng 7,9 km/s để đi vào quỹ đạo quanh Trái Đất; cấp hai khoảng 11,2 km/s để thoát khỏi lực hút Trái Đất; cấp ba khoảng 16,7 km/s để rời khỏi Hệ Mặt Trời. Cả ba là giá trị lý tưởng tính từ mặt đất, bỏ qua khí quyển và sức cản.

KHÁM PHÁ HỆ MẶT TRỜI

01 / 11

Đang tải…

Hệ hành tinh

Hệ Mặt Trời

Một ngôi sao, tám hành tinh, hàng trăm vệ tinh cùng vô số tiểu hành tinh và thiên thể băng giá — tất cả thuộc về một hệ hành tinh hình thành khoảng 4,6 tỉ năm trước từ một đám mây khí và bụi khổng lồ. Ở trung tâm, Mặt Trời nắm hơn 99,8% khối lượng của toàn hệ; phần vật chất còn lại tạo nên các hành tinh và vô số thế giới nhỏ. Càng xa Mặt Trời, năng lượng nhận được nhìn chung càng giảm, và diện mạo các hành tinh cũng thay đổi rõ rệt: từ những thế giới đá ở phía trong, qua các hành tinh khí khổng lồ, tới những hành tinh băng khổng lồ ở vùng ngoài.

Tuổi ước tính
≈ 4,6 tỉ năm
Số hành tinh
8
Hành tinh lùn (IAU)
5
Mặt Trời chiếm
≈ 99,86% khối lượng hệ
Tới quỹ đạo Hải Vương
30,07 AU · 4.495 triệu km
Vành đai Kuiper
≈ 30 – 50 AU
Cách tâm Ngân Hà
≈ 26.000 năm ánh sáng
Một vòng quanh Ngân Hà
≈ 230 triệu năm

Tổng số vệ tinh tự nhiên đã biết của các hành tinh trong Hệ Mặt Trời đã vượt hơn 400 và vẫn tiếp tục tăng; riêng Sao Thổ hiện có gần 300 vệ tinh được công nhận (IAU Minor Planet Center · 2026).

Hình động khái niệm gồm ba chặng của việc đọc ánh sáng, chạy nối tiếp không dừng. Chặng một: ánh sáng có cấu trúc — hai nguồn giao thoa, chỗ sóng cộng lại thì sáng, chỗ triệt nhau thì tối. Chặng hai: mã vạch của vật chất — ánh sáng được trải ra theo bước sóng và những khe tối hiện lên, mỗi nguyên tố để lại một mã riêng. Chặng ba: đọc ra thế giới — chùm tia khúc xạ và gấp nếp thành những sợi sáng phân nhánh, cùng phép đọc ấy soi được bầu khí quyển của một ngôi sao xa và cũng soi được sức khoẻ của một cánh đồng. Đây là hình dung khái niệm; khoảng cách vân và vị trí các vạch được chọn cho dễ nhìn, không phải bước sóng đo thật của một nguyên tố cụ thể nào.

Hình động khái niệm, chạy tuần hoàn không dừng. Từ mép trái ngoài khung, một vầng sáng phồng lên co lại theo nhịp — thế cân bằng khiến một ngôi sao cháy ổn định thay vì nổ tung. Từ đó một dòng hạt thổi ra không ngớt. Ba thế giới khoác bầu khí quyển làm bằng hạt sáng đứng ở ba khoảng cách khác nhau. Khi cơn gió mạnh lên, thế giới gần nhất dày và đục thêm vì giữ quá nhiều, thế giới xa nhất tơi ra thành một vệt bay đi không trở lại, thế giới ở giữa chỉ hơi rung. Xa hơn nữa, qua một ngưỡng nhiệt độ, các hạt bắt đầu bọc băng và ngả sang màu lam. Cuối cùng một sao chổi băng qua, cái đuôi của nó luôn quay lưng lại vầng sáng kể cả khi đang bay ra xa — cùng một cơn gió đã xé bầu khí quyển kia. Đây là hình dung khái niệm về ba kết cục, không phải mô phỏng ba thiên thể cụ thể; khoảng cách và kích thước là ước lệ thị giác, không theo tỉ lệ thật.

Hình động khái niệm, chạy tuần hoàn không dừng. Một con tàu liên hành tinh lao vào chiều sâu màn hình. Tàu có mũi nón và khoang điều khiển với các ô cửa sổ, một vành sinh hoạt hình khuyên đang quay để tạo trọng lực nhân tạo, một giàn khung dài, hai cánh pin mặt trời, hai tấm tản nhiệt và hai loa phụt đang cháy. Chung quanh, các ngôi sao kéo thành vệt sáng và những khối tiểu hành tinh xoay chậm lớn dần rồi lướt qua. Đây là hình dung khái niệm; con tàu không mô tả một thiết kế có thật nào, và khoảng cách, kích thước, tốc độ đều là ước lệ thị giác chứ không theo tỉ lệ thật.

NHỮNG THẾ GIỚI BÍ ẨN

01 / 04 · Hành tinh lùn

Ceres

Hình minh họa đang được cập nhật

Hành tinh lùn · vành đai tiểu hành tinh chính

Ceres

1 Ceres

Thiên thể lớn nhất trong vành đai tiểu hành tinh chính, đồng thời là hành tinh lùn duy nhất nằm hoàn toàn bên trong quỹ đạo Sao Hải Vương. Ceres chứa khoảng một phần tư tổng khối lượng của cả vành đai và đủ lớn để trọng lực kéo nó về dạng gần cầu. Những quan sát của tàu Dawn cho thấy lớp vỏ chứa nhiều băng nước, khoáng vật ngậm nước và các vùng sáng khác thường trong một số hố va chạm.

Điều khiến nó trở nên đặc biệt

Nổi bật nhất là những đốm sáng trong hố Occator, chủ yếu gồm các muối carbonate natri. Chúng được cho là hình thành khi nước muối từ bên dưới trồi lên bề mặt rồi bay hơi, để lại lớp muối — bằng chứng rằng bên trong Ceres từng tồn tại các dung dịch mặn và có thể vẫn còn những túi nước muối sâu dưới lớp vỏ.

Đường kính trung bình
940 km
Khối lượng
9,38 × 10²⁰ kg
Bán trục lớn quỹ đạo
2,77 AU
Một năm
4,60 năm Trái Đất
Chu kỳ tự quay
9,07 giờ
Vị trí
Vành đai chính

Mission tiêu biểuDawn (NASA) — bay quanh Ceres từ 2015 đến 2018.

Hình động khái niệm, chạy tuần hoàn không dừng. Trên mặt đất, một chảo ăng-ten lớn ngẩng lên trời và xoay liên tục để bám theo một vệ tinh đang bay vòng phía trên. Khi chảo bắt được tín hiệu, một dòng hạt sáng đổ từ vệ tinh xuống bộ thu đặt ở tiêu điểm chảo. Qua ba lần bay qua nối tiếp, dòng dữ liệu mỗi lần một dày hơn. Phía xa là một trung tâm vũ trụ với sân bê tông, tháp phóng, nhiều toà nhà có ô cửa sáng và cột đèn; trên bệ phóng, một tên lửa mang vệ tinh vừa rời bệ, luồng phụt sáng rực và khói đang bung ngang trên mặt sân. Trên trời có vài ngôi sao sáng. Đây là hình dung khái niệm: không mô tả một cơ sở hay thiết kế có thật nào, không có bản đồ hay đường biên giới, và tỉ lệ khoảng cách là ước lệ thị giác.

Hình động khái niệm, chạy tuần hoàn không dừng. Một hành tinh khí khổng lồ có vành đai chiếm phần lớn khung hình, đang quay chậm: các dải mây trôi ngang và vài xoáy bão lớn dịch dần theo. Vành đai gồm vô số mảnh nhỏ, vòng trong quay nhanh hơn vòng ngoài, và bóng của hành tinh đổ một vệt tối lên mặt vành. Trên nền trời đen đầy sao, một đội năm con tàu bay thành đội hình chữ V lướt ngang qua, mỗi chiếc chỉ là một chấm sáng kéo theo vệt phụt. Đây là hình dung khái niệm: không mô tả một thiên thể hay thiết kế có thật nào; tốc độ quay, khoảng cách và kích thước đều là ước lệ thị giác.

Hai cảnh chạy tuần tự. Chọn một mốc để xem cảnh tương ứng; chọn bất kỳ mốc nào sẽ dừng chế độ tự chạy.

Khối gồm hai cảnh dựng bằng phối cảnh ba chiều, chạy tuần tự. Cảnh một, sóng hấp dẫn: hai hố đen xoáy vào nhau làm tấm không-thời gian rung lên, gợn sóng lan ra ở tốc độ ánh sáng và làm một vòng hạt giãn theo một hướng, ép theo hướng vuông góc. Cảnh hai, mũi tên thời gian: hạt trong một hộp tản ra khắp nơi và không bao giờ tự gom lại, entropy chỉ tăng, nên thời gian có một chiều. Đây là hình ảnh khái niệm minh hoạ ý niệm, không phải kết quả tính toán từ phương trình.

BÊN NGOÀI HỆ MẶT TRỜI

01 / 04 · Ngoại hành tinh

Bên ngoài Hệ Mặt Trời

Proxima Centauri b

Hình minh họa đang được cập nhật

Ngoại hành tinh cỡ Trái Đất

Proxima Centauri b

Proxima b

Hình dung của họa sĩ khoa học. Bề mặt và khí quyển của hành tinh này chưa từng được quan sát trực tiếp.

Ánh sáng đã đi

4,24 năm

để đến bạn

Ánh sáng ta nhận được hôm nay đã rời hệ Proxima Centauri hơn bốn năm trước — nơi có ngoại hành tinh gần Hệ Mặt Trời nhất được biết hiện nay.

Ngoại hành tinh quay quanh Proxima Centauri — ngôi sao gần Hệ Mặt Trời nhất. Proxima b có khối lượng gần Trái Đất và chuyển động trong vùng ở được của sao mẹ, nơi nhiệt độ về nguyên tắc có thể cho phép nước lỏng tồn tại nếu điều kiện khí quyển phù hợp. Nhưng Proxima Centauri là một sao lùn đỏ hoạt động mạnh, thường xuyên phát ra những đợt bùng phát và bức xạ năng lượng cao, nên liệu hành tinh này có giữ được khí quyển và thực sự thích hợp cho sự sống hay không vẫn là câu hỏi chưa có lời giải.

Điều khiến nó trở nên đặc biệt

Chỉ cách chúng ta khoảng 4,24 năm ánh sáng, Proxima b là ngoại hành tinh gần nhất được biết. Khoảng cách ấy vẫn khổng lồ đối với công nghệ hiện nay, nhưng khiến nó trở thành một trong những mục tiêu hấp dẫn nhất khi con người nghĩ tới việc thăm dò một hệ hành tinh ngoài Hệ Mặt Trời.

Khoảng cách
4,24 năm ánh sáng
Sao mẹ
Proxima Centauri · sao lùn đỏ
Khối lượng tối thiểu
≈ 1,07 lần Trái Đất
Chu kỳ quỹ đạo
11,2 ngày Trái Đất
Bán trục lớn
≈ 0,049 AU
Phát hiện
2016 · vận tốc xuyên tâm
Xem thêm dữ liệu
Ghi chú khối lượng
Phương pháp vận tốc xuyên tâm chủ yếu cho biết khối lượng tối thiểu vì độ nghiêng quỹ đạo chưa được xác định trực tiếp.
Bán kính
Chưa được đo; các giá trị bán kính hiện có chủ yếu là ước tính từ mô hình.
Khí quyển
Chưa được xác nhận. Hoạt động mạnh và các đợt bùng phát của sao mẹ có thể gây xói mòn khí quyển theo thời gian.

Một vòng biến đổi liên tục của cùng một lượng vật chất. Chọn một mốc để xem nhịp tương ứng; chọn bất kỳ mốc nào sẽ dừng chế độ tự chạy.

Hoạt họa theo dõi cùng một lượng vật chất biến đổi liên tục qua thời gian, dựng bằng phối cảnh ba chiều. Vật chất bắt đầu là một đám mây khí và bụi lạnh; hấp dẫn kéo nó tụ lại cho tới khi lõi đủ nóng để hợp hạch và một ngôi sao bốc cháy. Ngôi sao sống bằng cân bằng giữa hấp dẫn ép vào và bức xạ đẩy ra. Khi hết nhiên liệu, lõi sụp rồi dội ngược thành một vụ nổ siêu tân tinh, hất chính lượng vật chất ấy trở lại không gian, mang theo những nguyên tố nặng vừa được rèn. Đám mây mới giàu hơn đám mây cũ, và từ đó những ngôi sao cùng những thế giới mới thành hình. Các ngôi sao có một cuộc đời, nhưng vật chất của chúng thì tiếp tục cuộc hành trình. Đây là hình ảnh khái niệm minh hoạ ý niệm, không phải kết quả mô phỏng từ phương trình.

Một cú lùi ra xa liên tục qua năm bậc quy mô. Chọn một mốc để xem bậc tương ứng; chọn bất kỳ mốc nào sẽ dừng chế độ tự chạy.

Hoạt họa là một cú lùi ra xa liên tục, dựng bằng phối cảnh ba chiều. Điểm nhìn bắt đầu nằm bên trong đĩa Ngân Hà: quanh ta chỉ có những ngôi sao rời rạc và một dải sáng vắt ngang trời — dải sáng ấy chính là đĩa thiên hà nhìn từ bên trong. Khi điểm nhìn rời khỏi mặt phẳng đĩa, dải sáng mở ra thành một chong chóng xoắn ốc với trục phình ở giữa và một quầng bao quanh; Mặt Trời nằm ngoài rìa, trên một cánh tay phụ, cách tâm khoảng hai mươi sáu nghìn năm ánh sáng. Lùi tiếp, cả thiên hà co lại thành một hòn đảo ánh sáng giữa vô số hòn đảo khác, trong đó có những cặp đang kéo nhau bằng hấp dẫn và vươn ra những dải sao dài. Lùi tiếp nữa, các thiên hà lộ ra là không rải đều: chúng tụ thành nhóm và cụm, giữa các cụm là những khoảng trống rộng lớn. Ở bậc cuối, các cụm hiện ra nằm trên những sợi, các sợi gặp nhau ở những nút, và toàn bộ tạo thành một tấm mạng vũ trụ. Càng lùi ra xa, cái từng có vẻ riêng lẻ càng lộ ra là một phần của một cấu trúc lớn hơn. Đây là hình ảnh khái niệm minh hoạ ý niệm, không phải kết quả mô phỏng hay dữ liệu khảo sát bầu trời.

Một cú lùi ra xa liên tục qua năm bậc quy mô. Chọn một mốc để xem bậc tương ứng; chọn bất kỳ mốc nào sẽ dừng chế độ tự chạy.

Hoạt họa là một chuyến bay liên tục rời khỏi Trái Đất, dựng bằng phối cảnh ba chiều. Điểm nhìn bắt đầu ở gần mặt đất: chỉ thấy một đường chân trời gần như thẳng và một bầu trời xanh phủ kín. Khi lên cao, đường chân trời cong dần, và bầu trời tưởng như vô tận co lại thành một vòng cung xanh rất mỏng ôm lấy hành tinh — toàn bộ không khí, thời tiết và sự sống nằm gọn trong lớp ấy. Từ khoảng cách nhìn được trọn cả đĩa hành tinh, các lớp dữ liệu khoa học lần lượt quét qua bề mặt: nhiệt độ, mây, băng hai cực, mực nước biển, carbonic — con người chuyển từ ngắm Trái Đất sang đo Trái Đất. Ra xa hơn nữa hiện ra một lớp mắt thường không thấy được: gió Mặt Trời lao tới liên tục, và từ trường của hành tinh dựng lên một vùng bảo vệ bị nén dẹt ở phía ngày, kéo dài thành một cái đuôi ở phía đêm. Rồi Trái Đất nhỏ dần: lục địa biến mất, thành phố biến mất, mọi đường biên biến mất, cho tới khi nó chỉ còn là một chấm sáng nhỏ giữa một khung hình gần như trống rỗng. Tất cả những gì chúng ta biết đều ở trên chấm sáng ấy. Cuối cùng, khung hình đưa Trái Đất và Mặt Trăng vào cùng một khuôn hình, với khoảng cách vẽ đúng tỉ lệ, để thấy hành tinh của ta không đứng một mình mà là một nửa của một hệ thống. Đây là hình ảnh khái niệm minh hoạ ý niệm, không phải ảnh chụp hay kết quả mô phỏng.

Một cú lùi ra xa liên tục qua năm bậc quy mô. Chọn một mốc để xem bậc tương ứng; chọn bất kỳ mốc nào sẽ dừng chế độ tự chạy.

Hoạt họa là một chuyến lặn liên tục vào bên trong vật chất. Bắt đầu từ một vật rắn quen thuộc: đặc, chắc, có biên rõ ràng. Phóng vào trong, cái đặc ấy hoá ra là một mạng lưới phân tử, rồi thành từng nguyên tử — mà nguyên tử thì gần như trống rỗng, với một hạt nhân nhỏ hơn nó khoảng một trăm nghìn lần và một đám mây electron mờ bao quanh. Trong hạt nhân, proton và neutron bị lực mạnh ép sát nhau; và chính proton cũng không phải một viên bi mà là ba quark bị trói trong một trường keo dính. Đến đây cách mô tả phải đổi: vật lý hiện đại không mô tả tự nhiên bằng những viên bi nhỏ dần mà bằng trường. Không gian không còn là chỗ trống — nó tràn đầy những trường vô hình, hạt chỉ là dao động của chúng, và hạt có khối lượng vì tương tác với trường Higgs. Mỗi giây có khoảng một trăm nghìn tỉ neutrino xuyên qua cơ thể ta mà ta không cảm thấy gì. Sâu hơn nữa, trực giác đời thường hết hiệu lực: một hạt không còn là một chấm ở một chỗ mà là một vùng khả năng, đi qua cả hai khe cùng lúc và tự giao thoa với chính mình; hai hạt vướng víu phải được mô tả như một hệ duy nhất dù cách nhau bao xa, nhưng điều đó không cho phép truyền tin nhanh hơn ánh sáng. Vật chất có một tấm gương là phản vật chất; khi gặp nhau chúng huỷ thành ánh sáng, và cứ một tỉ cặp huỷ nhau thì dư đúng một hạt vật chất — tất cả vật chất trong vũ trụ là từ phần dư ấy. Chuyến lặn không kết thúc ở một tầng đáy mà ở một vết nứt: cơ học lượng tử mô tả rất thành công thế giới hạt, thuyết tương đối rộng mô tả rất thành công không-thời gian, và ở những điều kiện cực hạn hai bức tranh ấy chưa khớp được với nhau. Đây là hình ảnh khái niệm minh hoạ ý niệm, không phải kết quả mô phỏng.

[chu_diem_14]
[chu_diem_15]
[chu_diem_16]